Bản tin hoạt động Công nghiệp và Thương mại tháng 03_2020

Thứ ba - 24/03/2020 22:52 224 0

Bản tin hoạt động Công nghiệp và Thương mại tháng 03_2020

Trong số này: Tổng kết công tác thi đua khen thưởng của Sở Công Thương năm 2019; Kết quả hoạt động công nghiệp và thương mại Quý I năm 2020; Kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính Quý I năm 2020; Kết quả công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng Quý I/2020; Hội nhập quốc tế sau 03 năm thực hiện chương trình 35-CTr/TU ngày 27/2/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai; Tác động của dịch bênh Covid-19 đến ngành Thương mại; Hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2020; Công tác phối hợp trong việc tổ chức giới thiệu các sản phẩm OCOP tại các phiên chợ hàng Việt và các hội nghị, hội thảo; Tăng cường các giải pháp tiết kiệm điện trên địa bàn tỉnh.

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI  QUÝ I NĂM 2020

Tổng giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) ước thực hiện tháng 3 đạt 1.898,34 tỷ đồng, quý I năm 2020 ước đạt 4.776,68 tỷ đồng, đạt 20,84% so với kế hoạch năm và tăng 5,03% so với cùng kỳ .
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tháng 03/2020 ước đạt 4.575,25 tỷ đồng. Lũy kế 3 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 16.747,97 tỷ đồng đạt 20,93 % so với kế hoạch và tăng 110,03% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, kinh tế Nhà nước ước đạt 584,05 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 3,49%, kinh tế tập thể đạt 4,35 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 0,03 kinh tế cá thể đạt 6.686,69 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 39,93%, kinh tế tư nhân đạt 9.472,87 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 56,56 %.
Tổng kim ngạch xuất  nhập khẩu
Xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh ước thực hiện tháng 3 đạt 35 triệu USD, lũy kế 3 tháng đạt 110,2 triệu USD, đạt 17,49% kế hoạch, giảm 23,47% so với cùng kỳ.
Ước thực hiện các mặt hàng xuất khẩu như sau: Cà phê 44.000 tấn/ 62 triệu USD giảm 24,14% về lượng, giảm 32.81% về giá trị; Mủ cao su 316 tấn/0,39 triệu USD, giảm 60,5% về lượng và 67,67 về giá trị; Sản phẩm gỗ: 1 triệu USD; Hàng khác đạt: 46,8 triệu USD, giảm 5,43% so cùng kỳ.
 Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu ước tháng 3 đạt 5 triệu USD, lũy kế 3 tháng đạt 11,5 triệu USD đạt 12,78% kế hoạch,  giảm 64,76% so với cùng kỳ.
Ước thực hiện các mặt hàng chủ yếu như sau: Sắn lát 7.370 tấn/1,51 triệu USD; hạt điều 1.300 tấn/2,4 triệu USD giảm 88,39% về lượng và 86,13 về kim ngạch; cao su tự nhiên 2,98 triệu USD  và một số hàng hóa khác.
Kinh tế biên mậu:
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu qua biên giới ước 3 tháng đầu năm 2020 đạt 16,5 triệu USD, giảm 20% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do kim ngạch nhập khẩu gỗ, hạt điều...giảm mạnh. Trong đó xuất khẩu đạt 8,5 triệu USD, tăng gấp 2 lần so với cùng kỳ với một số mặt hàng chủ yếu: Hàng bách hóa đạt 1,2 triệu USD; năng lượng điện 1,5 triệu USD và một số hàng hóa khác. Nhập khẩu đạt 8 triệu USD, giảm hơn 40% so với cùng kỳ với mặt hàng chủ yếu là sắn lát 10.000 tấn/2 triệu USD, cao su thiên nhiên 860 tấn/1,2 triệu USD, hạt điều 2.500 tấn/4,42 triệu USD giảm hơn 50% về lượng và kim ngạch, và một số hàng hóa khác./.

                                                       Phòng  Kế hoạch - Tài chính -  Tổng hợp
 
 
  
KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH QUÝ I NĂM 2020

Thực hiện Quyết định số 752/QĐ-UBND ngày 09/12/2019 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc ban hành Kế hoạch cải cách hành chính năm 2020 của tỉnh Gia Lai, Sở Công Thương bám sát vào Kế hoạch để chỉ đạo triển khai thực hiện tốt công tác cải cách hành chính của Sở, với những công việc cụ thể.


Về công tác chỉ đạo, điều hành cải cách hành chính, Sở Công Thương đã xây dựng và ban hành các  văn bản chỉ đạo, điều hành triển khai công tác cải cách hành chính năm 2020 gồm: Quyết định số 130/QĐ-SCT ngày 27/12/2019 ban hành Kế hoạch cải cách hành chính năm 2020 của Sở Công Thương; Quyết định số 129/QĐ-SCT ngày 27/12/2019 về việc ban hành kế hoạch tuyên truyền công tác cải cách hành chính năm 2020 của Sở Công Thương; Quyết định số 128/QĐ-SCT ngày 27/12/2019 về việc ban hành kế hoạch Kiểm soát thủ tục hành chính năm 2020 của Sở Công Thương; Kế hoạch số 30/KH-SCT ngày 05/9/2019, Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Sở Công Thương năm 2020.
Về công tác cải cách thủ tục hành chính, Sở tiếp tục duy trì thực hiện tiếp nhận và trả kết quả cho các tổ chức, cá nhân đến liên hệ công việc tại Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả của Sở Công Thương theo Quy chế hoạt động của Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh Gia Lai được ban hành kèm theo Quyết định số 80/QĐ-VP ngày 31/8/2018 của Văn phòng UBND tỉnh Gia Lai. Các thủ tục hành chính của sở đã được cập nhật vào Cơ sở dữ liệu Quốc gia, niêm yết công khai tại “Bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ”, trên trang thông tin điện tử của Sở tại địa chỉ: http://sct.gialai.gov.vn đảm bảo đúng quy định.
Bộ phận tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ tại sở là đầu mối duy nhất tiếp nhận và hướng dẫn tổ chức, công dân đến liên hệ giải quyết công việc thường xuyên liên quan đến thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Sở, nhận hồ sơ đầy đủ theo quy định, chuyển hồ sơ đã nhận đến các phòng chuyên môn có liên quan để xem xét giải quyết và trả kết quả cho tổ chức, công dân đúng quy định. Trong quí I/2020, bộ phận “tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ” của Sở đã kiểm tra hồ sơ, hoàn chỉnh thủ tục chuyển các phòng chức năng giải quyết 765 hồ sơ thuộc các lĩnh vực của  ngành Công Thương. Đến nay đã giải quyết và trả kết quả 747 hồ sơ cho các tổ chức, cá nhân. Hiện nay còn 18 hồ sơ đang trong thời gian giải quyết hoàn tất công tác thẩm định để trả kết quả, không có hồ sơ trễ hạn.
Sở tiếp tục duy trì hệ thống dịch vụ công trực tuyến, đến nay Sở Công Thương đã triển khai áp dụng 38 thủ tục hành chính được tiếp nhận và giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và 01 thủ tục hành chính được tiếp nhận và giải quyết qua dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 4, từ đầu năm đến nay đã tiếp nhận và giải quyết 284 hồ sơ thủ tục hành chính thông qua dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh.
Sở tiếp tục triển khai ứng dụng có hiệu quả phần mềm quản lý văn bản điều hành; hệ thống một cửa điện tử; hệ thống thư công vụ của tỉnh. Đến nay toàn thể công chức, viên chức đã sử dụng thành thạo và thường xuyên sử dụng phần mềm Quản lý văn bản điều hành, hộp thư điện tử công vụ, thủ tục hành chính được tiếp nhận qua hệ thống một cửa điện tử và chuyển đến các phòng chuyên môn, trình lãnh đạo phê duyệt và chuyển trả hồ sơ qua phần mềm quản lý văn bản điều hành của Sở. Sở đã trang bị mạng nội bộ (LAN) và các máy tính tại các phòng chuyên môn thuộc sở đều được kết nối internet. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho cho công tác cải cách hành chính được đảm bảo, hiện nay toàn bộ công chức, viên chức, người lao động thuộc Sở đã được trang bị máy vi tính để làm việc, văn thư và bộ phân tiếp nhận và hoàn trả hồ sơ được trang bị gồm máy vi tính, bàn làm việc, máy in, may Scan, đảm bảo để triển khai thực hiện tốt công việc được giao./.

Văn phòng Sở
 
Kết quả công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng Quý I/2020

Thực hiện Thông tư 03/2013/TT-TTCP ngày 10/6/2013 của Thanh tra Chính phủ Quy định chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; công văn số 138/TTr-VP ngày 12/4/2016 của Thanh tra tỉnh Gia Lai về việc hướng dẫn thực hiện chế độ báo cáo công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng.
Trong Quý I/2020, kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng (số liệu báo cáo từ ngày 10/11/2019 - 05/3/2019) như sau:
- Về công tác thanh tra: Thực hiện 01 cuộc thanh tra tại 08 đơn vị  hoạt động trong lĩnh vực vật liệu nổ công nghiệp trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Kết quả qua thanh tra, có 01 đơn vị có hành vi vi phạm phải xử lý vi phạm hành chính, với số tiền xử phạt là 7.000.000 đồng.
* Ngoài ra, tiếp nhận 01 hồ sơ đề nghị XPVPHC trong lĩnh vực điện lực từ đơn vị Điện lực chuyển đến. Đã ra Quyết định XPVPHC đối với 01 cá nhân có hành vi vi phạm về trộm cắp điện, với số tiền xử phạt là 3.500.000 đồng.
- Về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo: Duy trì công tác tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo thường xuyên theo quy định. Công tác này luôn được xử lý giải quyết kịp thời, đảm bảo theo quy định, kết quả không có đơn thư kéo dài, đơn thư tồn đọng.
- Về công tác phòng, chống tham nhũng: Tham mưu cho Giám đốc Sở ban hành Kế hoạch số 02/KH-SCT ngày 08/01/2020 về thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng năm 2020, qua đó nhằm triển khai thực hiện trong cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan. Tiếp tục thực hiện tốt công tác phòng, chống tham nhũng theo quy định; tuyên truyền và phổ biến Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và các văn bản pháp luật khác có liên quan; gắn công tác thanh tra, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân với yêu cầu phát hiện kiến nghị và xử lý những hành vi tiêu cực, tham nhũng; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ về công tác phòng, chống tham nhũng theo quy định./

                                                                                                                Thanh tra Sở
Hội nhập quốc tế sau 03 năm thực hiện chương trình 35-CTr/TU ngày 27/2/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 BCH TW Đảng về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Tỉnh Gia Lai đã ban hành kế hoạch hành động triển khai thực hiện Chương trình 35-CTr/TU ngày 27/2/2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai.
Từ năm 2017 đến nay, Tỉnh Gia Lai đã tích cực tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, các chủ trương của tỉnh về hội nhập quốc tế.  Tổ chức các lớp tập huấn phổ biến kiến thức cho tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp, các đơn vị quản lý nhà nước về các Hiệp định thương mại song phương, đa phương của Việt Nam đã ký kết với các quốc gia, các khu vực trên thế giới; chiến lược tham gia các thỏa thuận thương mại tự do đến năm 2020, các cơ hội và thách thức của Việt Nam khi hội nhập sâu với kinh tế thế giới.

Tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ đầu tư áp dụng  trên địa bàn tỉnh Gia Lai.  Tình hình thu hút đầu tư của tỉnh Gia Lai đã đạt được kết quả quan trọng.Từ năm 2016 đến nay đã thu hút, kêu gọi đầu tư vào địa bàn tỉnh 291 dự án, tổng vốn đăng ký 692.130 tỷ đồng (giai đoạn 2011-2015 có 66 dự án, vốn đăng ký 22.257 tỷ đồng). Trong đó: 94 dự án được các doanh nghiệp đang quan tâm lập thủ tục đầu tư với số vốn khoảng 42.130 tỷ đồng (48 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 20.227 tỷ đồng đã được UBND tỉnh đồng ý chủ trương nghiên cứu dự án; 46 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 21.903 tỷ đồng đang hoàn thiện các thủ tục để được UBND tỉnh cho phép nghiên cứu dự án)..
Và 197 dự án điện mặt trời, điện gió được các nhà đầu tư quan tâm đăng ký với quy mô 27.543 MWp, dự kiến vốn đầu tư trên 650.000 tỷ đồng (trong đó có 48 DA- công suất 6.559 MWp đã được UBND tỉnh trình Bộ Công thương bổ sung quy hoạch; 149 DA- công suất 20.984 MWp đang được các nhà đầu tư khảo sát, nghiên cứu lập hồ sơ).
Hoạt động  xuất khẩu hàng hóa tỉnh Gia lai giai đoạn 2017-2020 đạt kết qủa đáng kể.  Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng qua từng năm. năm 2017 đạt 450 triệu USD, năm 2018 đạt 470 triệu USD tăng 4,4%, năm 2019 đạt 500 triệu USD tăng 6,38% so với 2018.  Mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng nông sản với một số mặt hàng như: cà phê, cao su, sắn lát, tiêu, sản phẩm gỗ..., các sản phẩm này đã có mặt trên thị trường của gần 40 quốc gia. Đặc biệt một số ngành hàng đã đáp ứng được yêu cầu chất lượng đối với thị trường khó tính như: Mỹ, EU, Nhật Bản… điển hình là cà phê với kim ngạch xuất khẩu trung bình trên 200 triệu USD/năm.
 Số lượng doanh nghiệp tham gia xuất khẩu hiện có gần 30 doanh nghiệp. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (01doanh nghiệp) có kim ngạch xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao, khoảng hơn 30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.
            Thị trường xuất khẩu chủ yếu là châu âu (chiếm 50-60% tổng kim ngạch XK của tỉnh) tiêu thụ phần lớn mặt hàng cà phê nhân xô, sản phẩm gỗ.., tiếp đến là thị trường châu á với khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu với các quốc gia như Trung quốc, nhật bản, hàn quốc, singapo, malaysia... tiêu thụ chủ yếu sản phẩm cao su, sắn lát, cà phê, sản phẩm gỗ; còn lại là các thị trường khác.
 Hoạt động xuất nhập khẩu qua biên giới với Campuchia đã đạt được kết quả đáng ghi nhận tuy còn nhiều biến động. Tổng Kim ngạch xuất nhập khẩu qua biên giới qua các năm như sau: năm 2017 đạt  139 triệu USD, năm 2018 đạt 73,36 triệu USD, năm 2019 đạt 58,05 triệu  USD. Xuất khẩu tăng trưởng khả quan từ 11 triệu USD năm 2017 lên 24,8 triệu USD năm 2019.  Nhập khẩu giảm do ảnh hưởng từ các chính sách hạn chế xuất khẩu gỗ của Campuchia, hàng nông sản chịu sự cạnh tranh mua bán từ các doanh nghiệp Trung Quốc, Thái lan...
Tỉnh đã  tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân tìm kiếm thị trường và giới thiệu sản phẩm thông qua các trang website của Sở Công Thương và Trung tâm Khuyến công và Xúc tiến thương mại; cùmg với “ Chuyên mục Truyền hình Công thương” Vận động các doanh nghiệp kinh doanh thương mại triển khai tốt chương trình “Tuần hàng Việt Nam”  “Điểm bán hàng Việt Nam” do Bộ Công Thương phát động, hỗ trợ các dơn vị, cá nhân sản xuất tại địa phương tìm đầu ra cho sản phẩm, nhất là những sản phẩm OCOP của địa phương.
Tham gia kết nối cung cầu hàng hoá với một số tỉnh bạn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở phòng trưng bày và giới thiệu hàng hóa đồng thời mang sản phẩm đặc trưng của tỉnh tham gia quảng bá tại một số tỉnh bạn và hỗ trợ tạo điếu kiện cho các doanh nghiệp, cá nhân làm việc với các cơ quan có liên quan trong vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu.
Tổ chức các lượt hội chợ tại Gia Lai nhằm  tạo cầu nối cho các doanh nghiệp có cơ hội giao thương kết nối, hợp tác tìm kiếm đối tác mở rộng mạng lưới kinh doanh, đề xuất UBND tỉnh hỗ trợ cho các doanh nghiệp kinh doanh những sản phẩm đặc trưng của tỉnh tham gia các hội chợ trên toàn quốc và nước ngoài nhằm quảng bá thương hiệu những đặc sản của tỉnh Gia Lai. Đặc biệt các hội chợ lớn được tổ chức tại Pleiku phục vụ cho nhu cầu mua sắm của nhân dân trong dịp Lễ, Tết  tạo điểm nhấn, tạo động lực cho các  Doanh nghiệp hưởng ứng một cách mạnh mẽ nhằm phục vụ cho nhu cầu mua sắm của nhân dân
            Xuất bản khoảng 450 tập san giới thiệu về sản phẩm OCOP và 400 quyển giới thiệu tiềm năng và bản sắc văn hóa của tỉnh gửi đến các tổ chức và đơn vị có lien quan nhằm giới thiệu những lợi thế và thế mạnh của tỉnh Gia Lai.  Phê duyệt 51 lượt hội chợ triển lãm thương mại trên địa bàn tỉnh và đồng ý chủ trương cho 21 lượt doanh nghiệp tổ chức trưng bày giới thiệu sản phẩm tại địa phương, tổ chức và tham gia các Hội nghị kết nối cung cầu và hội nghị giới thiệu sản phẩm OCOP của tỉnh tổ chức cũng như các tỉnh bạn tổ chức. Vận động và hỗ trợ các doanh nghiệp tại địa phương có những sản phẩm đặc trưng đẩy mạnh công tác xây dựng thương hiệu và quảng bá thương hiệu trên phạm vị toàn quốc
 Tỉnh đã triển khai xây dựng các mô hình trình diễn ứng dụng tiến bộ KH&CN vào sản xuất và đời sống.  Đặc biệt làm chủ được một số quy trình kỹ thuật sản xuất giống và đã tiến hành chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu trên địa bàn tỉnh như:  kỹ thuật sản xuất nấm ăn và nấm dược liệu , kỹ thuật nhân giống cấp 1 và sản xuất nuôi trồng Đông trùng hạ thảocông nghệ tưới tiết kiệm nước và kỹ thuật canh tác tiên tiến trong sản xuất bền vững cà phê và hồ tiêu, nhân giống nuôi cấy mô đối với các mẫu tiêu sạch bệnh ….
Triển khai Kế hoạch hành động thực hiện “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Gia Lai theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Qua ba năm thực hiện, nông nghiệp tỉnh tiếp tục phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng chung của cả tỉnh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân. Các vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm ngày càng được quan tâm, chú trọng. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục nhận được sự đồng tình và đã được chính quyền các cấp thực hiện tích cực, năng lực quản lý ngành ngày càng được nâng cao.
Triển khai các Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh.  Một số dự án đã đem lại hiệu quả thiết thực như: Dự án nhà máy chế biến rau quả của Công ty Cổ phần xuất khẩu Đồng Giao cung cấp sản phẩm nước trái cây cô đặc và sản phẩm rau quả đông lạnh, rau quả đồ hộp cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu (công suất 20.000 tấn sản phẩm/năm); dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật Khí sinh học - Bioga”, ...Trên địa bàn tỉnh hiện có 02 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Công ty TNHH MTV Hương Đất An Phú gieo trồng và sản xuất các loại rau đảm bảo chất lượng, thân thiện với môi trường. Công ty cổ phân chè Bàu Cạn được UBND tỉnh sản xuất chè, cà phê, bơ an toàn thực phẩm.
Tổ chức quán triệt, triển khai thực hiện các Hiệp định Thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên, Hiệp ước về biên giới quốc gia ; các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ biên giới, kiểm soát xuất, nhập cảnh, xuất, nhập khẩu, góp phần xây dựng biên giới hòa bình, ổn định, phát triển./.

Diễm Kiều- P. QLXNK

Tác động của dịch bênh Covid-19 đến ngành Thương mại
Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 đã và đang lây truyền đến với nhiều quốc gia trên thế giới, đã ảnh hưởng đến nước ta nói chung, tỉnh Gia Lai nói riêng, Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng đến hoạt động thương mại tỉnh Gia Lai, tuy nhiên nhờ sự chỉ đạo sâu sát của tỉnh ủy và UBND tỉnh Gia Lai cùng với sự chủ động của các chủ thể kinh doanh thương mại nên mức độ tác động của dịch bệnh đến hoạt động thương mại tuy có chiều hướng giảm, nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát. Biểu hiện rỏ nhất là sức mua trên thị trường giảm, các doanh nghiệp thương mại, trung tâm thương mại, chợ, Siêu thị, cửa hàng tiện lợi … lượng khách đến mua sắm giảm khoảng 30% so với tháng trước Tết, các nhà hàng, khách sạn, quán ăn, khu vui chơi lượng khách tham gia rất ít, dẫn đến doanh thu của các tổ chức, cá nhân kinh doanh thương mại, dịch vụ  giảm khoảng 20%. Tháng 01/2020 tổng mức lưu chuyển hàng hóa đạt 6.547 tỷ đồng, giảm 5% so với tháng 12/2019 (số tiền 340 tỷ), tháng 02/2020 là tháng cao điểm của dịch bệnh, người tiêu dùng ngại đến những nơi tập trung đông người, nhất là các Siêu thị lượng khách giảm rõ rệt, nên tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 5.625 tỷ đồng, giảm 15% so với tháng 01/2020(số tiền là 922 tỷ), tháng 01  và 02/2020 giảm 1.262 tỷ. Dự kiến quý I giảm khoảng 20%.
           Để hạn chế những tác động của dịch Covid-19 tác động đến hoạt động thương mại của tỉnh. Sở Công Thương đã khẩn trương triển khai các Chỉ thị, văn bản của Chính phủ, Bộ Công Thương, Tỉnh Ủy và UBND tỉnh Gia Lai đến các địa phương và doanh nghiệp thực hiện một số giải pháp như: Sở Công Thương ban hành văn bản số 134/QLTM-SCT về việc hỗ trợ tiêu thụ nông sản để ứng phó với dịch viêm đường hô hấp cấp, gửi đến các Sở, ban ngành liên quan; UBND các huyện thị xã thành phố và các doanh nghiệp, siêu thị…  Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thống kê các đơn vị, cá nhân, HTX có sản xuất và chế biến hàng nông sản và thủy sản cung cấp cho Sở Công Thương để Sở Công Thương cung cấp cho các đơn vị trung gian thu mua, các doanh nghiệp, HTX và các địa phương tỉnh bạn nhằm tìm đầu ra cho sản phẩm giải quyết nhanh lượng hàng nông, thủy sản ứ đọng do tình hình dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp tác động, vận động các doanh nghiệp đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại như tổ chức các chương trình khuyến mại, giảm giá, phát triển các hệ thống phân phối làm cầu nối sản xuất với tiêu dùng, nhằm kích cầu tiêu dùng trong bối cảnh hiện nay.
           UBND các huyện, thị xã, Tp Pleiku tổ chức triển khai chủ động việc kết nối với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân kết nối thông tin với Sở Công Thương  tìm đầu ra cho sản phẩm trên địa bàn quản lý, đồng thời các địa phương cũng đã chỉ đạo các Ban quản lý chợ rà soát tổng hợp các đầu mối thu mua nông, lâm, thủy sản gửi về Sở Công Thương để Sở có kế hoạch kết nối kịp thời, lồng ghép công tác tuyên truyền vận động các cá nhân, tổ chức đầu tư vào sản xuất nông nhiệp theo kế hoạch, định hướng của địa phương, không sản xuất  theo phong trào, tự phát, nhằm tránh rủi ro thiệt hại về kinh tế.
           Các doanh nghiệp, Siêu thị đánh giá khả năng dự trữ của các kho trong công tác bảo quản các sản phẩm thiết yếu , tăng cường công tác thu mua, mở rộng quy mô sản xuất, tăng cường nhân lực, nâng cao công xuất của trang thiết bị để thu mua, chế biến và tiêu thụ hàng nông, thủy sản nhằm tăng cường hỗ trợ cho nông dân. Bên cạnh đó, phối hợp với Cục Quản lý thị Trường tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý các hành vi ép giá trục lợi, gian lận thương mại, gây hoang mang cho người sản xuất và tiêu dùng.
           * Những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp: Doanh nghiệp ở Gia Lai chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên năng lực tài chính cũng có hạn, tình hình dịch bệnh xảy ra đã tạo thêm phần khó khăn cho doanh nghiệp, một số mặt hàng thiết yếu tăng nhẹ, sức mua chậm, đầu ra của sản phẩm bị hạn chế đã dẫn đến tốc độ luân chuyển  đồng vốn quay không nhanh, thêm chi phí về lưu kho, lưu bãi.
           Kiến thức về thị trường cũng như các hoạt động về xúc tiến thương mại chưa được đầu tư đúng mức, thông tin trao đổi giữa các doanh nghiệp với nhau chưa được kết nối thường xuyên. Chính vì vậy, khi có sự cố dịch bệnh như vừa qua doanh nghiệp trở tay có phần khó khăn.
           4/ Đề xuất các giải pháp để giải quyết khó khăn trong thời gian tới:
           Đề xuất Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu ngay một số gói chính sách tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, nông dân chịu ảnh hưởng của dịch bằng các biện pháp như:  hỗ trợ thanh khoản, duy trì cho vay, miễn giảm lãi suất cho vay, khoanh nợ, giãn nợ, nới lỏng các điều khoản trả nợ, đẩy nhanh quá trình và thời gian xem xét các đơn xin vay và giải ngân các khoản vay, miễn lãi quá hạn các khoản vay….Bên cạnh đó, đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường, đa dạng thị trường, khai thác tận dụng các thị trường mới./.

P.QLTM

Hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2020

Hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam 2020, Chủ đề: “Bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử” là hoạt động rất thiết thực trong việc nâng cao quyền lợi của người tiêu dùng trong thời đại hiện nay khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Được hiểu chúng ta đang bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời kỳ kinh tế số 4.0.
Thời gian qua, việc thực thi các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Gia Lai nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội, đã có sự chuyển biến tích cực cả về nhận thức và hành động: Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có ý thức hơn trong việc phối hợp giải quyết khiếu nại, vị thế Người tiêu dùng được nâng lên; những thói quen về tiêu dùng bền vững từng bước được hình thành như: Chọn sản phẩm an toàn, quá trình sản xuất thân thiện với môi trường, giúp tác động ngược trở lại tới các doanh nghiệp sản xuất. Đồng thời, nhà sản xuất, doanh nghiệp và các tổ chức kinh doanh bài bản, lành mạnh đã giúp người tiêu dùng được sử dụng hàng hóa, dịch vụ an toàn, tin tưởng. Các cơ quan quản lý nhà nước trong tỉnh đã phối hợp tốt với các hiệp hội, đoàn thể chính trị và doanh nghiệp triển khai nhiều hoạt động nhằm thúc đẩy sự hiểu biết và tương tác giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng. Các chương trình, hoạt động tri ân người tiêu dùng như: Hỗ trợ bảo hành sản phẩm, hỗ trợ, tư vấn sử dụng sản phẩm tiêu dùng an toàn tiết kiệm, giảm giá, khuyến mại và các hoạt động tri ân khác... Các chương trình ký kết, cam kết doanh nghiệp sản xuất, cung cấp dịch vụ đảm bảo an toàn, chất lượng vì người tiêu dùng được các doanh nghiệp hưởng ứng tích cực. Từ đó, góp phần thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế doanh nghiệp và địa phương.
Tuy nhiên, tình trạng chung về vi phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn diễn ra phức tạp, đặc biệt là trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế số với những hình thức, chiêu trò lừa đảo tinh vi. Thời gian qua, Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng đã tiếp nhận nhiều phản ánh, khiếu nại của người tiêu dùng về việc nhận được các cuộc điện thoại, tin nhắn từ mạng xã hội có nội dung cung cấp thông tin lừa đảo. Nhiều trường hợp đã bị dẫn dụ rồi nộp cho đối tượng lừa đảo một khoản tiền, từ một vài triệu đồng cho đến hàng trăm triệu đồng… Do đó, trước tình hình mới toàn xã hội cần được đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, thực thi luật và điều chỉnh chính sách cho phù hợp và kịp thời với thực tiễn để bảo vệ tốt hơn quyền lợi người tiêu dùng trong thời gian tới.
Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tỉnh Gia Lai chính thức được thành lập vào ngày 09 tháng 11 năm 2018 . Quá trình hoạt động, Hội tiếp nhận nhiều ý kiến phản ánh, kiến nghị của người tiêu dùng và Hội đã phối hợp với cơ quan nhà nước chức năng, doanh nghiệp SXKD có liên quan để tư vấn, giải đáp mọi thắc mắc một cách minh bạch, kịp thời giải quyết, đảm bảo mọi quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng, không có một trường hợp nào tồn đọng.
Hưởng ứng Ngày Quyền của người tiêu dùng Việt Nam năm 2020 (15/3), thực hiện Kế hoạch của Bộ Công Thương và Công văn chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai, Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tỉnh phối hợp với cơ quan quản lý thương mại địa phương đã có văn bản kêu gọi các thành viên Hội, các địa phương trong tỉnh, các tổ chức, đơn vị liên quan, các doanh nghiệp, cơ sở SXKD treo băng rôn, khẩu hiệu và thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền, tri ân, bảo vệ quyền lợi tiêu dùng tại địa phương, đơn vị, doanh nghiệp của mình.


Để làm tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội luôn là người đồng hành và bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng. Hội  mong muốn và sẵn sàng tiếp nhận mọi thông tin phản ánh, kiến nghị của người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh một cách kịp thời.
Địa chỉ tiếp nhận phản ánh, kiến nghị: Hội Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng tỉnh Gia Lai, tầng 7, Trụ sở Liên cơ quan, số 17 – Trần Hưng Đạo, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Số điện thoại 0913.450143 (ông Nguyễn Tấn Thành, Chủ tịch Hội) và 0837.171.406 (ông Nguyễn Nam Hải, Phó Chủ tịch Hội).      E-mail: hoibvqlntdgialai@gmail.com. Rất mong sự phối hợp của các tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan, người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh tham gia góp phần xây dựng môi trường kinh doanh, tiêu dùng lành mạnh cho đất nước nói chung và tỉnh Gia lai nói riêng./.

Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tỉnh Gia Lai
 

CÔNG TÁC PHỐI HỢP TRONG VIỆC TỔ CHỨC GIỚI THIỆU CÁC SẢN PHẨM OCOP TẠI CÁC PHIÊN CHỢ HÀNG VIỆT VÀ CÁC HỘI NGHỊ, HỘI THẢO

Với mục tiêu, phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị; Việc hỗ trợ tổ chức giới thiệu sản phẩm OCOP trong các phiên chợ hàng Việt Nam, trưng bày các sản phẩm OCOP trong các lễ hội, hội nghị, hội thảo tổ chức trên địa bản tỉnh Gia Lai, tuyên truyền quảng bá sản phẩm OCOP của địa phương đến với cộng đồng; tham gia các sự kiện xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm OCOP đồng thời hỗ trợ tư vấn cho các tổ chức cá nhân, các cơ sở sản xuất tiếp cận nguồn vốn khuyến công, đầu tư phát triển sản xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tạo việc làm, tăng thu nhập thực hiện phân công lại xã hội góp phần xây dựng nông thôn mới.
Trong một năm qua, Sở Công thương đã giao nhiệm vụ cho Trung tâm Khuyến công & Xúc tiến thương mại Gia Lai triển khai thực hiện và đã hỗ trợ nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, đổi mới trang thiết bị, công nghệ sản xuất,… Việc giới thiệu, phổ biến rộngrãi nội dung, mục đích, ý nghĩa chương trình OCOP thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như ban hành tập san OCOP Gia Lai, xây dựng chuyên mục truyền hình OCOP, tổ chức hội chợ triển lãm chuyên đề OCOP, giới thiệu sản phẩm OCOP trên sản thương mại điện tử, cung cấp thông tin về các chương trình OCOP thông qua cổng Thông tin Điện tử của Sở Công thương và của trung tâm đến nay đã đem lại một số kết quả đáng tích cực. Cũng trong một năm qua việc giới thiệu các sản phẩm OCOP của tỉnh nhà đã được Trung tâm Khuyến công & Xúc tiến thương mại giới thiệu đến một số tỉnh thành trên cả nước, tuy nhiên nhiều sản phẩm OCOP được đánh giá 3 đến 4 sao có chất lượng nhưng chưa được tiêu thụ rộng rãi và chưa thu hút được sự quan tâm của du khách nước ngoài. Nút thắt lớn nhất hiện nay là vấn đề liên kết với nhà phân phối để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Thực trạng khi quảng bá giới thiệu sản phẩm theo tiêu chí OCOP :
- Nhiều nông sản được sản xuất với quy mô nhỏ, lẻ; một số sản phẩm chủ lực của địa phương chưa xây dựng được thương hiệu; còn một số sản phẩm tiêu thụ chủ yếu ở dạng thô, hàm lượng khoa học công nghệ trong sản phẩm thấp, sức cạnh tranh chưa cao; chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn vào sản xuất và chế biến nông sản để hình thành chuỗi giá trị nông nghiệp bền vững;
- Các sản phẩm OCOP được đánh giá xếp hạng chất lượng sản phẩm, từ 4 trở lên còn thấp, toàn tỉnh chưa có sản phẩm OCOP đạt hạng 5 sao.
- Trình độ quản trị sản xuất, kinh doanh của các hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp, hộ sản xuất còn hạn chế; nguồn nhân lực quản lý thiếu, chưa đáp ứng yêu cầu, chưa có khả năng cung cấp sản phẩm với đơn hàng lớn, chưa đủ khả năng xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Thuận lợi, khó khăn khi giới thiệu các sản phẩm OCOP
Các sản phẩm OCOP của tỉnh Gia Lai đã được đánh giá phân hạng trong đó có 8 sản phẩm của 6 chủ thể đạt hạng 4 sao. Việc này đã khẳng định được kết quả triển khai đề án theo Quyết định số 34/QĐ-UBND tỉnh Gia Lai ngày 28/01/2019 về việc phê duyệt đề án chương trình mỗi xã một sản phẩm trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2018-2020 định hướng đến năm 2030 một cách hiệu quả.
Các Huyện rất quan tâm trong việc phối hợp với các sở ngành liên quan hỗ trợ tổ chức giới thiệu các sản phẩm OCOP trong các phiên chợ hàng việt nam, trưng bày các sản phẩm OCOP trong các lễ hội, Hội nghị, Hội thảo tổ chức trên địa bàn tỉnh.
Việc trưng bày quảng bá sản phẩm OCOP tại địa phương hiệu quả đem lại không cao, chỉ mang tỉnh giới thiệu quảng bá tại hội nghị, số lượng khách tiêu dùng và khách tiếp nhận thông tin quảng bá sản phẩm bị hạn chế, việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ và quảng bá đến người tiêu dùng hầu như chưa đạt.
Một số giải pháp:
- Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền tạo niểm tin cho người sản xuất cũng như người tiêu dùng nhận thức và hiểu được mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của sản phẩm OCOP, từ đó kích thích tiêu thụ, thúc đẩy sản xuất, tạo điều kiện và động lực cho người sản xuất mạnh dạn đầu tư, phát triển các sản phẩm lợi thế của mỗi địa phương.
- Phát triển sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phải thực hiện từng bước từ vùng nguyên liệu ổn định đến chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn về các thị trường khác nhau. Việc phát triển sản phẩm phải gắn chặt với công tác đánh giá xếp hạng của OCOP. Sản phẩm OCOP được đánh giá, xếp hạng và gắn sao sản phẩm phải đảm bảo về uy tín và chất lượng lâu dài.
- Công tác chỉ đạo thực hiện chương trình OCOP được gắn kết chặt chẽ với các chương trình phát triển kinh tế trọng tâm của mỗi địa phương. Các thủ tục hành chính hỗ trợ người sản xuất phải thực hiện nhanh gọn, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cần nhiệt tình, tâm huyết. Duy trì và thực hiện tốt khâu xúc tiến thương mại, giao lưu thương mại giữa các tỉnh, thành trong cả nước, từng bước đưa nông dân hội nhập thị trường; phối hợp thực hiện hiệu quả việc tư vấn và hỗ trợ ngân sách, đưa tín dụng thương mại sâu rộng vào chương trình OCOP.
- Hướng dẫn làm thủ tục chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao chất lượng giá trị sản phẩm cho các hộ sản xuất nắm rõ; Thực hiện chính sách hỗ trợ xúc tiến thương mại thường xuyên để người dân thấy được hiệu quả, thế mạnh trong việc tham gia chương trình OCOP; Xây dựng cơ chế hỗ trợ hoàn chỉnh, tạo mọi khả năng hỗ trợ theo cơ chế chính sách cho bà con nhân dân phát triển từ khâu thiết kế mẫu mã bao bì cho các sản phẩm tham gia quy trình xếp hạng sản phẩm OCOP đến khâu tìm đầu ra tiêu thụ sản cho sản phẩm.
- Cần giám sát chất lượng sản phẩm để đảm bảo uy tín tránh tình trạng hàng nhái dán nhãn sản phẩm được công nhận OCOP.
Nhiệm vụ trong thời gian đến :
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước: Tăng cường công tác tuyên truyền quảng bá cho bà con nông dân nhận biết về chương trinhg OCOP, các cấp, ngành của tỉnh quan tâm tuyên truyền, hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia các chương trình OCOP – mỗi xã một sản phẩm. Áp dụng cơ chế chính sách hợp lý hỗ trợ cho nông dân, các hộ sản xuất tiếp cận nguồn vốn đúng quy định đạt hiệu quả.
- Đối với các đơn vị sản xuất: Nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến mẫu mã bao bì, duy trì đúng các chỉ tiêu đã được công nhận phân hạng sản phẩm (đối với những sản phẩm đã được đánh giá xếp hạng), hoàn thiện hồ sơ tiêu chí các sản phẩm để tham gia đánh giá xếp hạng sản phẩm trong năm 2020. Tham gia các chương trình quảng bá xúc tiến giới thiệu sản phẩm để tìm kiếm thị trường tiêu thụ.
- Đối với đơn vị sự nghiệp: Đẩy mạnh vai trò khuyến công & Xúc tiến thương mại, thông báo cung cấp các thông tin liên quan đến thị trường tiêu thụ sản phẩm đến cho doanh nghiệp đồng thời đẩy mạnh vai trò làm cầu nối liên kết nhà sản xuất với nhà phân phối để đáp ứng nhu cầu mua sắm hàng hóa đúng chất lượng cho người tiêu dùng, đẩy mạnh ngày càng nhiều người việt nam dùng hàng việt nam.
Thực hiện chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) sẽ tạo động lực phát huy sự sáng tạo cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và cho chính người dân, tạo nên niềm tự hào về đặc sản vùng miền, quê hương. Đồng thời cũng tạo môi trường cho các loại hình kinh tế ở khu vực nông thôn phát triển, nhất là phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp vừa và nhỏ, đẩy mạnh phát triển du lịch. Đây cũng là cơ hội tốt để đưa khoa học, công nghệ vào sản xuất, từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thu hút đầu tư và tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, phát triển thị trường đến tiêu thụ sản phẩm, mang lại sản phẩm tốt, chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, nâng cao hiệu quả sản xuất và thu nhập cho người dân./.

                                                                                                                            Huy Hoàng
Tăng cường các giải pháp tiết kiệm điện trên địa bàn tỉnh

Thực hiện Chỉ đạo của UBND tỉnh tại Văn bản số 386/VP-KHTH ngày 11/02/2020 về việc triển khai thực hiện Thông báo số 25/TB-VPCP ngày 20/01/2020 của Văn phòng Chính phủ. Trong đó, UBND tỉnh giao cho Sở Công Thương chủ trì, phối hợp với Công ty Điện lực Gia Lai và các Sở, ngành liên quan triển khai thực hiện theo đúng nội dung chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại thông báo nêu trên.
            Để triển khai thực hiện các nội dung tại Thông báo số 25/TB-VPCP ngày 20/01/2020 của Văn phòng Chính phủ, ngày 18/3/2020, Sở Công Thương đã có Văn bản số 331/SCT-QLNL đề nghị các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh thực hiện một số nội dung sau:
1. Thủ trưởng các Sở, ban, ngành của tỉnh; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố chỉ đạo đơn vị mình và các đối tượng sử dụng điện thuộc phạm vi quản lý của mình thực hiện tốt một số giải pháp sau:
a. Đối với các cơ quan, công sở:
- Xây dựng và thực hiện kế hoạch tiết kiệm điện năng sử dụng hàng năm của cơ quan, đơn vị theo Thông tư số 111/2009/TTLT/BTC-BCT ngày 01/6/2009 của Liên Bộ Tài chính - Công Thương về hướng dẫn thực hiện tiết kiệm điện trong các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.
- Xây dựng và ban hành quy định về sử dụng điện, thay thế, sửa chữa các trang thiết bị sử dụng điện tại cơ quan, đơn vị theo nguyên tắc sau:
+ Tắt các thiết bị dùng điện không cần thiết khi ra khỏi phòng và hết giờ làm việc, cắt hẳn nguồn điện nếu không sử dụng các thiết bị khi hết giờ làm việc.
+ Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt bớt đèn chiếu sáng khi số người làm việc trong phòng giảm. Thiết kế, lắp đặt hệ thống chiếu sáng hành lang, sân vườn, khu vực bảo vệ theo tiêu chuẩn, …
+ Chỉ sử dụng điều hòa nhiệt độ khi thật cần thiết, cài đặt chế độ làm mát từ 250C trở lên. Dùng quạt thay thế điều hòa nhiệt độ khi thời tiết không quá nóng.
+ Khi cải tạo hoặc trang bị mới phải sử dụng phương tiện, thiết bị sử dụng năng lượng hiệu suất cao theo quy định hoặc thiết bị sử dụng điện có dán nhãn tiết kiệm năng lượng; nghiêm cấm thay thế, mua sắm mới đèn nung sáng.
+ Phổ biến, quán triệt tới toàn thể cán bộ nhân viên phải thực hiện tiết kiệm điện, đưa nội dung sử dụng điện tiết kiệm vào chỉ tiêu đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chấp hành kỷ luật nội bộ và thi đua khen thưởng hàng năm.
- Đôn đốc, rà soát và thường xuyên kiểm tra việc thực hiện nội quy và các quy định hiện hành về tiết kiệm điện.
- Thực hiện nghiêm túc Quyết định số 68/2011/QĐ-TTg ngày 12/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành danh mục phương tiện, thiết bị tiết kiệm năng lượng được trang bị, mua sắm đối với cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước; Ban hành quy chế về mua sắm thiết bị khi sửa chữa, thay thế hoặc mua mới đối với các thiết bị có hiệu suất năng lượng cao theo danh mục được Thủ tướng Chính phủ ban hành.
b. Đối với việc chiếu sáng công cộng:
- Kiểm tra, đánh giá chế độ chiếu sáng công cộng theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn chiếu sáng hiện hành, đảm bảo nguyên tắc chiếu sáng hiệu quả, tiết kiệm theo tiêu chuẩn Việt Nam TCXDVN 259:2001; Thay thế các đèn trang trí, đèn chiếu sáng bằng đèn tiết kiệm điện.
- Áp dụng hệ thống thiết bị điều khiển tự động có chế độ điều chỉnh công suất để giảm công suất chiếu sáng về đêm khi mật độ giao thông giảm.
- Triển khai các giải pháp công nghệ tiết kiệm điện trong chiếu sáng công cộng, sử dụng thiết bị chiếu sáng hiệu suất cao, tiết kiệm điện cho 100% công trình chiếu sáng công cộng xây dựng mới.
- Triển khai thực hiện đầu tư, trang bị hệ thống điều khiển tự động cho các hệ thống chiếu sáng đường phố chính, điều chỉnh thời gian chiếu sáng đường phố hợp lý theo mùa trong năm, phù hợp theo đặc điểm nhu cầu sinh hoạt và các hoạt động, các sự kiện tại địa phương, tránh lãng phí điện.
c. Đối với các hộ dùng điện sinh hoạt và cơ sở kinh doanh dịch vụ:
- Các hộ gia đình hạn chế sử dụng các thiết bị tiêu thụ điện lớn (máy điều hòa, bình nước nóng, bàn là điện …) trong thời gian cao điểm của hệ thống điện, từ 09 giờ 30 đến 11 giờ 30 (02 giờ) và từ 17 giờ 00 đến 20 giờ 00 (03 giờ) các ngày từ thứ Hai đến thứ Bảy; Khuyến khích sử dụng các loại thiết bị điện có hiệu suất cao và được dán nhãn năng lượng, ngắt các thiết bị điện không sử dụng ra khỏi nguồn điện.
- Khuyến khích thực hiện các giải pháp tiết kiệm điện:
+ Tắt các thiết bị điện khi ra khỏi phòng, cắt hẳn nguồn điện nếu không sử dụng các thiết bị điện.
+ Tận dụng tối đa ánh sáng và thông gió tự nhiên, tắt đèn chiếu sáng và các thiết bị điện khi không có nhu cầu sử dụng. Thiết kế, lắp đặt hệ thống chiếu sáng hành lang, sân vườn, khu vực làm việc theo tiêu chuẩn hiện hành.
+ Chỉ sử dụng điều hòa nhiệt độ khi thật cần thiết, cài đặt chế độ làm mát từ 25°C trở lên hoặc đặt chế độ chênh lệch nhiệt độ trong phòng và nhiệt độ bên ngoài chỉ từ 3 - 5°C. Dùng quạt thay thế điều hòa nhiệt độ khi thời tiết không quá nóng.
+ Khi cải tạo hoặc trang bị mới phải sử dụng phương tiện, thiết bị điện hiệu suất cao theo quy định hoặc thiết bị điện có dán nhãn tiết kiệm năng lượng; không sử dụng bóng đèn sợi đốt trong quá trình thay thế hoặc mua mới.
+ Hạn chế sử dụng các thiết bị tiêu thụ điện lớn (điều hòa không khí, bình nước nóng, bàn là điện,....) trong thời gian cao điểm tối của hệ thống điện (từ 17h đến 20h hàng ngày).
- Các cơ sở dịch vụ, thương mại nhà hàng, khách sạn,... tuân thủ nghiêm các quy định tại địa phương về chiếu sáng tiết kiệm điện, sẵn sàng cắt, giảm nhu cầu sử dụng điện khi có thông báo của Công ty Điện lực Gia Lai trong trường hợp thiếu điện.
2. Các doanh nghiệp sản xuất thực hiện ngay các giải pháp tiết kiệm điện sau:
- Xây dựng các giải pháp sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả, đảm bảo sử dụng đúng công suất và biểu đồ phụ tải đã đăng ký trong hợp đồng mua bán điện. Bố trí kế hoạch sản xuất hợp lý, hạn chế tối đa việc huy động các thiết bị có công suất tiêu thụ điện lớn như các máy nghiền, trạm bơm nước, máy nén khí... vào giờ cao điểm, hạn chế tối đa các thiết bị điện hoạt động không tải.
- Tăng cường sử dụng các thiết bị được dán nhãn năng lượng hiệu suất cao; khuyến khích sử dụng các dạng năng lượng mới, năng lượng tái tạo như: năng lượng gió, mặt trời, biomass,...; sử dụng hệ thống dự trữ năng lượng ở giờ thấp điểm để sử dụng vào giờ cao điểm; sử dụng các dịch vụ tiết kiệm năng lượng do các công ty Dịch vụ năng lượng (ESCO) cung cấp.
- Các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm (Nhà máy thủy điện Ia Ly; nhà máy thủy điện Sê San 3; nhà máy sản xuất tinh bột sắn, huyện Krông Pa; nhà máy sản xuất tinh bột sắn, huyện Mang Yang; nhà máy sản xuất ván MDF thị xã An Khê; nhà máy nhiệt điện sinh khối Ayun Pa; cơ sở vận tải hàng hóa của Công ty TNHH MTV Vận tải Trường Tín Gia Lai) phải thực hiện nghiêm túc các quy định tại Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
- Hàng năm, các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải thực hiện các giải pháp tiết kiệm điện để tiết kiệm ít nhất bằng 1% điện năng tiêu thụ trên một đơn vị sản phẩm so với năm trước đó.
- Tắt các thiết bị điện và đèn chiếu sáng không cần thiết trong thời gian nghỉ giữa ca. Triệt để tiết kiệm điện chiếu sáng sân, vườn, đường nội bộ trong các khu công nghiệp.
- Chuẩn bị các nguồn dự phòng để đáp ứng nhu cầu sản xuất khi xảy ra thiếu điện, xây dựng phương án tự cắt giảm phụ tải khi xảy ra thiếu điện.
3. Sở Thông tin & Truyền thông chỉ đạo các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh đưa nội dung thực hành tiết kiệm điện vào chương trình tuyên truyền thường xuyên và dành thời lượng thích hợp để truyền tải thông tin này đến với mọi đối tượng sử dụng điện.
4. Đài phát thanh & truyền hình Gia Lai, Báo Gia Lai đưa nội dung thực hành tiết kiệm điện vào chương trình tuyên truyền thường xuyên và dành thời lượng thích hợp để truyền tải thông tin này đến với mọi đối tượng sử dụng điện.
5. Công ty Điện lực Gia Lai, Công ty Cổ phần Điện Gia Lai tổ chức thống kê, theo dõi và báo cáo tình hình sử dụng điện tại các công sở, cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, có so sánh với mức sử dụng điện của tháng cùng kỳ năm trước, thông báo cho khách hàng, đồng thời báo cáo Sở Công Thương và UBND tỉnh để có biện pháp xử lý đối với các đơn vị, khách hàng không thực hiện tiết kiệm điện./.

P.QLNL
 

Tác giả bài viết: tipcgialai

Nguồn tin: tipcgialai.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây